SpStinet - vwpChiTiet

 

Chế phẩm mới có tác dụng hạ acid uric máu

Viên nang cứng DR được sản xuất từ 2 loại dược liệu ngắn ngày, giúp hạ acid uric máu, kháng viêm và an toàn là kết quả của đề tài "Nghiên cứu bào chế và thử nghiệm tác dụng hạ acid uric máu của viên nang DR từ diệp hạ châu đắng (Phyllanthus amarus) và râu mèo (Orthosiphon aristatus)".

Bào chế viên nang DR từ dược liệu trong nước

Đề tài do Đại học Y Dược TP.HCM chủ trì thực hiện, được Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM nghiệm thu trong năm 2019.

PGS. TS Nguyễn Phương Dung (chủ nhiệm đề tài) cho biết, tăng acid uric máu là một dạng rối loạn chuyển hóa thường gặp, chiếm từ 2,6-47,2% trong các cộng đồng và có xu hướng ngày càng gia tăng. Tăng axít uric máu không chỉ liên quan đến bệnh gout, mà còn là một nguy cơ của nhiều bệnh lý quan trọng khác như tăng huyết áp, bệnh mạch máu não, bệnh lý chuyển hóa, bệnh thận, tiền sản giật,…

Thuốc hạ acid uric thường được sử dụng là allopurinol. Loại thuốc này khá thông dụng do tương đối hiệu quả và rẻ tiền. Tuy nhiên, chỉ có khoảng 21-22% bệnh nhân đạt được nồng độ acid uric huyết thanh mục tiêu (dưới 0,36 mmol/L). Trong khi đó, có khoảng 5% trường hợp xuất hiện phản ứng tăng cảm với allopurinol, tuy hiếm gặp nhưng khá nghiêm trọng, với tỷ lệ tử vong tới 20-30%. Bất lợi khác của allopurinol là khi sử dụng bệnh nhân phải uống nhiều nước và gây kiềm hóa nước tiểu. Đây là những trở ngại đối với một liệu trình điều trị lâu dài.

Các tác giả đã xây dựng quy trình bào chế và tiêu chuẩn chất lượng cho viên nang cứng DR từ cao chiết Diệp hạ châu đắng và Râu mèo. Theo đó, quy trình bào chế viên nang cứng DR quy mô 10.000 viên/lô đã được xây dựng thành công; lựa chọn được tỷ lệ tá dược cho 1 viên nang DR (chứa 180 mg cao khô Diệp hạ châu và 120 mg cao khô Râu mèo) có độ rã và độ đồng đều khối lượng nhỏ nhất là: tinh bột ngô (115 mg); silic dioxyd dạng keo khan loại nặng (0,25 mg); bột talc (6 mg); magne stearat (4 mg).

Quy trình định lượng phyllanthin, sinensetin trong cao nguyên liệu và chế phẩm viên nang cứng DR đạt yêu cầu về tính đặc hiệu, độ lặp lại, độ đúng và khoảng tuyến tính nồng độ. Nhóm nghiên cứu cũng xây dựng bổ sung 3 tiêu chuẩn chất lượng của cao khô Diệp hạ châu đắng, cao khô Râu mèo: giới hạn kim loại nặng (arsen, catmi, thủy ngân); định tính bằng sắc ký lớp mỏng đối chiếu với sinensetin, phyllanthin; định lượng phyllanthin (> 136 μg/g), sinensetin (> 144 μg/g) bằng phương pháp HPLC.

Viên nang cứng DR được xây dựng tiêu chuẩn chất lượng theo yêu cầu của Dược điển Việt Nam V, trong đó phyllanthin > 23,80 μg/viên và sinensetin > 12,50 μg/viên được định lượng đồng thời bằng HPLC; đạt yêu cầu về độ ẩm, độ rã, độ đồng đều khối lượng, độ nhiễm khuẩn, hàm lượng sinensetin và phyllanthin sau 6 tháng bảo quản trong điều kiện lão hóa cấp tốc và sau 12 tháng trong điều kiện bảo quản thực. Ước tính hạn dùng thực tế của thuốc là 49 tháng.

Thử tác dụng hạ acid uric máu và tính an toàn của viên nang cứng DR cho thấy, ở liều uống 2 viên/kg và 4 viên/kg thể trọng, viên nang DR có tác dụng kháng viêm cấp (làm giảm phù chân chuột 10,93% và 13,96% so với lô không điều trị). Khi uống dự phòng (liều 2 viên/kg thể trọng chuột nhắt trắng), viên nang cứng DR làm giảm acid uric máu 22,70%, giảm acid uric nước tiểu 30,03%, tăng thể tích nước tiểu 45,03% so với lô không điều trị. Trên chuột nhắt trắng tăng acid uric cấp bởi kali oxonat, viên nang DR (uống liều 2 viên/kg) làm giảm acid uric máu 15,22%, giảm acid uric nước tiểu 15,99% so với lô không điều trị. Trên chuột nhắt trắng tăng acid uric mạn bởi kali oxonat, viên nang DR (uống liều 2 viên/kg và 4 viên/kg) làm giảm acid uric máu (35,68% và 40,54%), giảm acid uric nước tiểu (48,78% và 45,97%), tăng thể tích nước tiểu (42,45% và 96,70%) so với lô không điều trị. Ở liều uống 4 viên/kg và 6 viên/kg, viên nang DR không làm thay đổi các trị số huyết học, sinh hóa cơ bản và hình ảnh vi thể gan thận chuột nhắt.

Triển vọng áp dụng sản xuất

Theo PGS.TS Nguyễn Phương Dung, Diệp hạ châu và Râu mèo là 2 loại thảo dược ngắn ngày, thích hợp với điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu nhiệt đới của Việt Nam, thuận lợi cho việc phát triển các vùng nguyên liệu ở nhiều tỉnh thành khi cần huy động nguồn dược liệu đáp ứng yêu cầu sản xuất quy mô công nghiệp. Đây là lợi thể để các doanh nghiệp dược phẩm Việt Nam hoàn toàn chủ động nguồn nguyên liệu trong sản xuất.

Thành công của đề tài bổ sung những cơ sở cần thiết cho giai đoạn nghiên cứu lâm sàng, xác minh hiệu quả của chế phẩm trên người trước khi đưa vào ứng dụng trong điều trị.

Quy trình bào chế viên nang cứng DR phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất của các cơ sở sản xuất dược phẩm trong nước. Có thể áp dụng kết quả này để sản xuất thực phẩm bảo vệ sức khỏe dùng hỗ trợ điều trị các bệnh lý tăng acid uric máu. Do thị trường trong và ngoài nước chưa có sản phẩm tương tự, nhóm nghiên cứu mong muốn chuyển giao công nghệ, hợp tác với các doanh nghiệp sản xuất dược phẩm, thực phẩm chăm sóc sức khỏe để nhanh chóng đưa sản phẩm ra thị trường, dựa trên cơ sở nâng cấp cỡ lô và hoàn thiện quy trình sản xuất ở quy mô phù hợp với từng doanh nghiệp. Bên cạnh đó, triển khai các thử nghiệm lâm sàng để sản xuất đại trà dược phẩm phòng chống bệnh lý liên quan đến tăng acid uric máu.

Các sản phẩm của đề tài có thể chuyển giao và áp dụng ngay là quy trình định lượng sinensetin trong cao Râu mèo; quy trình định lượng phyllanthin trong cao; quy trình định lượng đồng thời sinensetin và phyllanthin trong chế phẩm; công thức bào chế viên nang cứng.

Bước đầu Công ty CP Đầu tư và Phát triển Đại Nam Pharma đã thể hiện sự quan tâm tiếp nhận để ứng dụng phát triển vào sản xuất.

Vân Nguyễn (CESTI)

Các tin khác: