SpStinet - vwpChiTietKHCN

 

Chương 5. GIẢI THƯỞNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

5.1. GIẢI THƯỞNG CẤP QUỐC GIA VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

5.1.1. Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ

Giải thưởng Hồ Chí Minh được Chủ tịch Hội đồng Nhà nước quy định tại Pháp lệnh số 16/LCT/HDNN7, ngày 04/6/1985. Giải thưởng trao tặng cho các công trình thuộc lĩnh vực khoa học, kỹ thuật và văn học, nghệ thuật đã được công bố hoặc sử dụng tại Việt Nam.

Giải thưởng Hồ Chí Minh được đề cập tại Điều 66, Điều 67 của Luật Thi đua, khen thưởng số 15/2003/QH11, ngày 26/11/2003 và Luật số 47/2005/QH11, ngày 14/6/2005 của Quốc hội về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng. Giải thưởng Hồ Chí Minh tiếp tục được đề cập tại Điều 46 Nghị định số 42/2010/NĐ-CP, ngày 15/4/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng.

Ngày 30/7/2014, Giải thưởng Hồ Chí Minh về KH&CN được quy định chi tiết (đối tượng, điều kiện, tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục xét tặng) tại Nghị định số 78/2014/NĐ-CP, nhằm động viên khuyến khích những người làm nghiên cứu khoa học, kỹ thuật cống hiến ngày càng nhiều cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Giải thưởng được xét và công bố 5 năm một lần vào dịp Quốc khánh 2/9, việc xét tặng do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì. Ngày 06/11/2014 Bộ Khoa học và Công nghệ có Thông tư số 31/2014/TT-BKHCN, quy định về việc tổ chức triển khai xét tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh. Theo đó, Giải thưởng Hồ Chí Minh về KH&CN được chia thành 3 nhóm: công trình nghiên cứu khoa học, công trình nghiên cứu phát triển công nghệ, công trình nghiên cứu ứng dụng công nghệ. Thời gian công trình được công bố hoặc ứng dụng trong thực tiễn ít nhất 3 năm hoặc công trình ứng dụng đổi mới sáng tạo có hiệu quả ít nhất 1 năm tính từ thời điểm cơ quan chủ trì tổ chức xét tặng giải thưởng nhận hồ sơ công trình được xét tặng.

Giải thưởng Hồ Chí Minh về KH&CN được xét tặng cho tác giả của công trình, cụm công trình KH&CN đặc biệt xuất sắc, có giá trị rất cao về KH&CN; được ứng dụng thành công và có hiệu quả trong các công trình trọng điểm quốc gia, có tác dụng lớn phục vụ sự nghiệp cách mạng, có ảnh hưởng rộng lớn và lâu dài trong đời sống nhân dân, góp phần quan trọng trong sự nghiệp phát triển nền kinh tế quốc dân, KH&CN hoặc ứng dụng trong thực tiễn. Các cá nhân, đồng tác giả là người nước ngoài có công trình KH&CN đủ tiêu chí cũng được đề nghị xét tặng giải thưởng.

Tác giả có công trình, cụm công trình được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về KH&CN được nhận Bằng chứng nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về KH&CN do Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam quyết định trao tặng, cùng tiền thưởng và được hưởng các quyền lợi khác theo quy định của pháp luật hiện hành.

Đến nay, Giải thưởng Hồ Chí Minh về KH&CN đã tổ chức 05 đợt trao tặng cho các tổ chức và cá nhân:

– Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt đầu tiên được trao cho 33 công trình và cụm công trình khoa học, theo Quyết định số 991 KT/CTN, ngày 10/9/1996 của Chủ tịch nước.
 

– Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt II được trao cho 21 công trình và cụm công trình KH&CN, theo Quyết định số 392 KT/CTN, ngày 01/9/2000 của Chủ tịch nước. 
 

– Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt III được trao cho 12 công trình và cụm công trình KH&CN, theo Quyết định số 971/2005/QĐ-CTN, ngày 30/8/2005 của Chủ tịch nước; và 01 công trình thuộc lĩnh vực an ninh - quốc phòng.
 

– Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt IV được trao cho 12 công trình và cụm công trình KH&CN, theo Quyết định số 104/QĐ-CTN, ngày 20/01/2012 của Chủ tịch nước; và 03 công trình thuộc lĩnh vực an ninh - quốc phòng. 
 

– Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt V được trao cho 09 công trình và cụm công trình KH&CN, theo Quyết định số 104/QĐ-CTN, ngày 11/01/2017 của Chủ tịch nước. 
 

Công trình/cụm công trình KH&CN được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt V

Nguồn: http://khoahocvacongnghevietnam.com.vn

5.1.2. Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ
 
Tương tự như Giải thưởng Hồ Chí Minh về KH&CN, Giải thưởng Nhà nước về KH&CN nhằm động viên khuyến khích những người làm nghiên cứu khoa học, kỹ thuật cống hiến ngày càng nhiều cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Giải thưởng này cũng được quy định cụ thể tại Pháp lệnh số 16/LCT/HDNN7; Điều 66, Điều 68 Luật Thi đua, khen thưởng số 15/2003/QH11, ngày 26/11/2003 và Luật số 47/2005/QH11, ngày 14/6/2005 của Quốc hội về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng; Điều 47 Nghị định số 42/2010/NĐ-CP, ngày 15/4/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng; Nghị định số 78/2014/NĐ-CP và hướng dẫn tại Thông tư số 31/2014/TT-BKHCN.

Giải thưởng Nhà nước về KH&CN được xét tặng và công bố 5 năm một lần vào dịp Quốc khánh 2/9, việc xét tặng do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì.

Giải thưởng Nhà nước về KH&CN cũng được chia thành 3 nhóm: công trình nghiên cứu khoa học, công trình nghiên cứu phát triển công nghệ, công trình nghiên cứu ứng dụng công nghệ. Thời gian công trình được công bố hoặc ứng dụng trong thực tiễn ít nhất 3 năm hoặc công trình ứng dụng đổi mới sáng tạo có hiệu quả ít nhất 1 năm tính từ thời điểm cơ quan chủ trì tổ chức xét tặng giải thưởng nhận hồ sơ công trình được xét tặng.

Giải thưởng Nhà nước về KH&CN được xét tặng cho tác giả của công trình, cụm công trình KH&CN xuất sắc, có giá trị cao về KH&CN; có tác dụng và ảnh hưởng lớn trong xã hội; được ứng dụng thành công và có hiệu quả trong các công trình trọng điểm quốc gia, góp phần quan trọng trong sự nghiệp phát triển nền kinh tế quốc dân, KH&CN hoặc ứng dụng trong thực tiễn. Các cá nhân, đồng tác giả là người nước ngoài có công trình KH&CN đủ tiêu chí cũng được đề nghị xét tặng giải thưởng.

Tác giả có công trình, cụm công trình được tặng Giải thưởng Nhà nước về KH&CN được nhận Bằng chứng nhận Giải thưởng Nhà nước về KH&CN do Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam quyết định trao tặng, cùng tiền thưởng và được hưởng các quyền lợi khác theo quy định của pháp luật hiện hành.

Các đợt trao Giải thưởng Nhà nước:

– Quyết định số 391 KT/CTN, ngày 01/9/2000 của Chủ tịch nước về việc trao Giải thưởng Nhà nước cho 71 công trình và cụm công trình KH&CN.

– Quyết định số 972/2005/QĐ-CTN, ngày 30/8/2005 của Chủ tịch nước về việc trao Giải thưởng Nhà nước cho 41 công trình và cụm công trình KH&CN; và 1 công trình thuộc lĩnh vực an ninh - quốc phòng.

– Quyết định số 103/QĐ-CTN, ngày 20/1/2012 của Chủ tịch nước về việc trao Giải thưởng Nhà nước cho 20 công trình và cụm công trình KH&CN; và 1 công trình thuộc lĩnh vực an ninh – quốc phòng.

– Quyết định số 105/QĐ-CTN, ngày 11/01/2017 của Chủ tịch nước về việc trao Giải thưởng Nhà nước cho 07 công trình và cụm công trình KH&CN.

 

Công trình/cụm công trình KH&CN vừa được trao Giải thưởng Nhà nước

Nguồn: http://khoahocvacongnghevietnam.com.vn

5.1.3. Giải thưởng Tạ Quang Bửu

Ngày 26/08/2013, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Quyết định số 2635/QĐ-BKHCN về Quy chế Giải thưởng Tạ Quang Bửu, giải thưởng được xét tặng hằng năm nhằm khích lệ và tôn vinh các nhà khoa học có thành tựu nổi bật trong nghiên cứu cơ bản thuộc các lĩnh vực khoa học tự nhiên và kỹ thuật, góp phần thúc đẩy nền KH&CN Việt Nam hội nhập và phát triển. Giải thưởng Tạ Quang Bửu được tổ chức lần đầu tiên vào năm 2014.

Quyết định số 2635/QĐ-BKHCN đã được thay thế bằng Thông tư số 01/2015/TT-BKHCN, ngày 12/1/2015, của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ về Quy chế Giải thưởng Tạ Quang Bửu.

Theo đó, Giải thưởng Tạ Quang Bửu được xét tặng cho tác giả các công trình nghiên cứu cơ bản thuộc các lĩnh vực: khoa học tự nhiên (toán học, khoa học máy tính và thông tin, vật lý, hóa học, các khoa học trái đất và môi trường liên quan, sinh học, khoa học tự nhiên khác); khoa học kỹ thuật; khoa học y, dược; khoa học nông nghiệp.

Cá nhân được xét tặng Giải thưởng Tạ Quang Bửu là người có đóng góp quan trọng nhất đối với công trình khoa học thỏa mãn các tiêu chuẩn: được thực hiện tại Việt Nam, công bố trước ít nhất một năm và không quá năm năm trên các tạp chí khoa học chuyên ngành quốc tế tính đến thời điểm kết thúc nhận hồ sơ đề nghị xét tặng Giải thưởng (tính theo thời điểm công bố của tạp chí), được đăng ký lưu giữ kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ theo quy định của pháp luật trong trường hợp công trình khoa học là kết quả của nhiệm vụ KH&CN có sử dụng hoặc nhận hỗ trợ kinh phí từ ngân sách nhà nước.
 

Tiêu chí đánh giá đối với công trình khoa học: ý nghĩa, giá trị khoa học của công trình khoa học; chất lượng của tạp chí khoa học có công trình khoa học được đăng tải, được xác định thông qua chỉ số tác động và các xếp hạng quốc tế tại thời điểm công bố công trình.

Cơ cấu Giải thưởng Tạ Quang Bửu bao gồm: từ 1 đến 3 giải thưởng dành cho tác giả của công trình khoa học và 1 giải thưởng dành cho nhà khoa học trẻ (dưới 35 tuổi) là tác giả của công trình khoa học.

Cá nhân đạt Giải thưởng được nhận Bằng chứng nhận của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ và tiền thưởng theo quy định.

Năm 2016, theo Quyết định số 1091/QĐ-BKHCN của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, Giải thưởng Tạ Quang Bửu được trao cho 2 nhà khoa học có thành tích nghiên cứu xuất sắc trong nghiên cứu cơ bản thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên và kỹ thuật và 1 nhà khoa học trẻ.

 

Danh sách các nhà khoa học được trao Giải thưởng Tạ Quang Bửu năm 2016

Nguồn: http://www.nafosted.gov.vn

5.1.4. Giải thưởng Sáng tạo khoa học công nghệ Việt Nam

Năm 1995, lần đầu tiên Quỹ Hỗ trợ sáng tạo kỹ thuật Việt Nam (Quỹ VIFOTEC) thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức Giải thưởng Khoa học công nghệ VIFOTEC (tiền thân Giải thưởng Sáng tạo khoa học công nghệ Việt Nam). 
 
Năm 1997, đề án phối hợp tổ chức Giải thưởng Khoa học công nghệ VIFOTEC được ký kết giữa Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam và Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ).

Năm 1999, Giải thưởng Khoa học công nghệ VIFOTEC được nâng cấp thành Giải thưởng Sáng tạo khoa học công nghệ Việt Nam.

Giải thưởng Sáng tạo khoa học công nghệ Việt Nam do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam và Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, cùng phối hợp tổ chức với các cơ quan như Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Thông tin - Truyền thông, Bộ Xây dựng, Bộ Giao thông Vận tải, Đài Truyền hình Việt Nam... Quỹ VIFOTEC là cơ quan thường trực.

Giải thưởng Sáng tạo khoa học công nghệ Việt Nam được tổ chức hàng năm, xét trao tặng cho các tác giả hoặc đồng tác giả là công dân Việt Nam, người Việt Nam ở nước ngoài; người nước ngoài đang lao động, học tập, công tác tại Việt Nam có những công trình KH&CN có giá trị lớn về khoa học - kinh tế - xã hội; đang được nghiên cứu, áp dụng trên lãnh thổ Việt Nam trong thời gian 5 năm tính đến thời điểm cuối cùng nộp hồ sơ nhằm khuyến khích nghiên cứu, áp dụng các thành tựu KH&CN tiên tiến vào sản xuất và đời sống và công nhận sự đóng góp nổi bật của các nhà khoa học.

Các công trình được trao Giải thưởng phù hợp với các lĩnh vực KH&CN ưu tiên, tập trung vào các lĩnh vực KH&CN trọng điểm của Nhà nước, và đạt các yêu cầu: tính mới (công trình đề cập tới những công nghệ, những vấn đề khoa học công nghệ chưa được công bố trên thế giới, chưa được bộc lộ hoặc phổ biến bằng các nguồn thông tin ở Việt Nam); tính sáng tạo (căn cứ vào trình độ khoa học công nghệ ở trong nước và ngoài nước, công trình đó không nảy sinh một cách hiển nhiên đối với chuyên gia trong lĩnh vực đó mà là kết quả của hoạt động khoa học kỹ thuật tạo ra); hiệu quả về kinh tế, kỹ thuật và xã hội; khả năng áp dụng ở quy mô công nghiệp, sản phẩm dễ chế tạo, dễ sử dụng, nguyên vật liệu dễ kiếm, thay thế nhập ngoại. Công trình đã được hội đồng khoa học cấp bộ, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cấp tương đương trở lên nghiệm thu, hội đồng khoa học các tổng công ty theo Quyết định 90/TTg, 91/TTg của Thủ tướng Chính phủ và các tập đoàn kinh tế hoặc hội đồng khoa học của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam nghiệm thu đánh giá xuất sắc và không vi phạm quyền sở hữu trí tuệ của cá nhân, đơn vị khác.

Các công trình được trao giải sẽ được nhận Bằng khen của Ban Tổ chức Giải thưởng, Biểu trưng vàng sáng tạo và kèm theo tiền mặt tương ứng với Giải thưởng.

Giải thưởng Sáng tạo khoa học công nghệ Việt Nam năm 2015 được trao cho 30 công trình khoa học thuộc 6 lĩnh vực công nghệ ưu tiên: công nghệ thông tin, điện tử và viễn thông; cơ khí tự động hóa; công nghệ vật liệu; sinh học phục vụ sản xuất và đời sống; công nghệ nhằm bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý tài nguyên; công nghệ nhằm tiết kiệm năng lượng và sử dụng năng lượng mới.

 

Danh sách các công trình đoạt Giải thưởng Sáng tạo khoa học công nghệ Việt Nam 2015

Nguồn: http://www.vifotec.com.vn

5.1.5. Giải thưởng Kovalevskaia

Giải thưởng Kovalevskaia, giải thưởng mang tên nhà nữ toán học Nga lỗi lạc thế kỷ XIX - Sofia Vasilyevna Kovalevskaia (1850-1891), được nhà toán học người Mỹ, Neal Koblitz và vợ là Ann Hibner Koblitz thành lập năm 1985. Giải thưởng nhằm tôn vinh những tập thể, cá nhân là các nhà khoa học nữ có thành tích xuất sắc thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên.

Quỹ Kovalevskaia dựa trên thu nhập từ cuốn sách của Neal Koblitz viết về tiểu sử của bà Kovalevskaia, cùng với sự ủng hộ của một số nhà khoa học khác. Quỹ đã hỗ trợ cho 8 nước đang phát triển là: Nicaragua, Mexico, Cuba, Phi, Mozambique, Peru, El Salvador và Việt Nam.

Giải thưởng Kovalevskaia được triển khai tại Việt Nam từ năm 1985, Chủ tịch Ủy ban Giải thưởng là bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Đến năm 2016, Chủ tịch Ủy ban Giải thưởng Kovalevskaia là Bà Nguyễn Thị Doan - nguyên Phó Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Giải thưởng Kovalevskaia được tổ chức xét trao tặng hàng năm. Tiêu chuẩn xét chọn đối với cá nhân: là phụ nữ Việt Nam đang công tác nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, thuộc một trong các lĩnh vực: toán học, vật lý, hóa học, sinh vật học, y học, dược học, nông nghiệp, công nghiệp, kỹ thuật, xây dựng, công nghệ thông tin…; có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu khoa học xuất sắc, được ứng dụng trong thực tiễn; có đóng góp tích cực vào việc xây dựng bộ, ngành; giỏi trong công tác nghiên cứu ứng dụng khoa học, đảm việc nhà, đóng góp tích cực cho phong trào phụ nữ của đơn vị, bộ/ngành; cá nhân không phải là thành viên của tập thể từng nhận giải thưởng Kovalevskaia.

Đối với tập thể: là tập thể/nhóm các nhà khoa học người Việt Nam có ít nhất 70% các thành viên là nữ (trong đó người đứng đầu là nữ) có các công trình, đề tài nghiên cứu khoa học xuất sắc thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên như: toán học, vật lý, hóa học, sinh vật học, y học, dược học, nông nghiệp, công nghiệp, kỹ thuật, kỹ thuật xây dựng,… được thừa nhận và được ứng dụng trong thực tiễn; đóng góp tích cực vào việc xây dựng bộ/ngành; các thành viên nữ trong tập thể là những phụ nữ giỏi trong công tác nghiên cứu khoa học, đảm việc nhà, đóng góp cho phong trào phụ nữ của đơn vị và phong trào phụ nữ cả nước.

Để được xét trao Giải thưởng Kovalevskaia, các cá nhân và tập thể nữ phải được đơn vị hay cơ quan chủ quản suy tôn và tiến cử; hồ sơ đề cử trao Giải thưởng do Hội đồng thi đua khen thưởng, Hội đồng khoa học các bộ/ngành xét chọn và giới thiệu về Ủy ban Giải thưởng Kovalevskaia.

Từ 1985 đến nay, tại Việt Nam, Giải thưởng Kovalevskaia đã được trao cho 17 tập thể và 44 cá nhân xuất sắc, tiêu biểu trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên và ứng dụng. Trong đó, có 2 tập thể khoa học và 6 nhà khoa học nữ hoạt động tại thành phố Hồ CHí Minh.
 

Danh sách các nhà khoa học nữ được trao Giải thưởng Kovalevskaia năm 2015

Nguồn: http://hoilhpn.org.vn
 

Tập thể và các nhà khoa học nữ hoạt động tại TP.HCM được trao Giải thưởng Kovalevskaia, từ năm 1985 đến 2015

Nguồn: tổng hợp từ http://hoilhpn.org.vn

5.1.6. Giải thưởng WIPO

Giải thưởng WIPO do Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO - World Intellectual Property Organization, là một trong 16 tổ chức chuyên môn của Liên Hợp Quốc, có chức năng chính là thực hiện và thúc đẩy sự phối hợp quốc tế trong hoạt động bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ) sáng lập và công bố lần đầu tiên vào năm 1979.

Giải thưởng WIPO được tổ chức hàng năm tại nhiều quốc gia trên thế giới nhằm khuyến khích các hoạt động sáng kiến, sáng chế trên toàn thế giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, đồng thời góp phần làm cho công chúng chú ý nhiều hơn và trân trọng hơn công lao đóng góp của các nhà khoa học.

Cơ cấu Giải thưởng WIPO gồm các giải thưởng dành tặng cho các nhà sáng chế, các công trình sáng tạo, doanh nghiệp sáng tạo, sinh viên sáng tạo và người sử dụng hiệu quả hệ thống WIPO. Cơ cấu này có thể thay đổi tùy điều kiện của mỗi năm và mỗi quốc gia.

Đối với giải thưởng WIPO dành cho doanh nghiệp sáng tạo, mục tiêu nhằm khuyến khích các doanh nghiệp, chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở tất cả các quốc gia tích cực sử dụng hệ thống sở hữu trí tuệ trong hoạt động sản xuất - kinh doanh. Việc tuyển chọn dựa trên các tiêu chí: số lượng các đối tượng sở hữu công nghiệp đã được áp dụng và thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp (các bằng độc quyền sáng chế, nhãn hiệu hàng hóa, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, tên gọi xuất xứ hàng hóa, chỉ dẫn địa lý, phần mềm máy tính,...); hiệu quả ứng dụng hệ thống sở hữu trí tuệ vào trong sản xuất - kinh doanh tạo ra tăng trưởng; sử dụng dịch vụ sở hữu trí tuệ; các biện pháp khác để khuyến khích phong trào sáng kiến; các giải thưởng khác đã nhận.

WIPO phối hợp với các tổ chức ở mỗi nước để lập ra các quy định, thủ tục và tiêu chuẩn để xét chọn trao Giải thưởng. Các tổ chức này có thể là các tổ chức chính phủ hoặc tư nhân hoạt động trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, khoa học và công nghệ, văn hóa, kinh doanh và thương mại. Ví dụ như các bộ chịu trách nhiệm liên quan đến các vấn đề sở hữu trí tuệ, cơ quan sở hữu trí tuệ quốc gia, các phòng thương mại và công nghiệp, các hiệp hội về công nghiệp, liên hiệp các đại diện sở hữu trí tuệ,…

Tại Việt Nam, từ năm 2001, Giải thưởng WIPO được Bộ Khoa học và Công nghệ cùng với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam chủ trì, thường trực là Quỹ Hỗ trợ Sáng tạo Kỹ thuật Việt Nam (VIFOTEC) tổ chức tuyển chọn và trao giải hàng năm.

Giải thưởng WIPO năm 2015 được trao cho 2 công trình xuất sắc thuộc lĩnh vực cơ khí tự động hóa và sinh học phục vụ sản xuất và đời sống.

 

Danh sách các công trình được trao Giải thưởng WIPO năm 2015

Nguồn: http://www.vifotec.com.vn


Danh sách các doanh nghiệp được trao Giải thưởng WIPO

Nguồn: tổng hợp từ http://www.vifotec.com.vn và http://www.giaithuong.vn


5.2. GIẢI THƯỞNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TẠI TP.HCM 
 

5.2.1. Giải thưởng Sáng chế Thành phố
 

Năm 2008, Giải thưởng Sáng chế Thành phố lần đầu tiên được triển khai theo Đề án tổ chức “Phong trào sáng tạo khoa học kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2007-2012”do Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh phê duyệt tại Quyết định số 4077/QĐ-UBND, ngày 11/9/2007. Giải thưởng do Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh chủ trì, tổ chức hàng năm. Đến năm 2010, Giải thưởng Sáng chế Thành phố được chuyển sang chu kỳ hai năm một lần theo chỉ đạo của Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.
 
Kể từ năm 2014, Giải thưởng Sáng chế Thành phố được tổ chức theo Quyết định số 5825/QĐ-UBND ngày 28/11/2014 của Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về ban hành Quy chế tổ chức các giải thưởng trong phong trào sáng tạo kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2014 - 2020.
 
Giải thưởng Sáng chế Thành phố nhằm thúc đẩy hoạt động sở hữu trí tuệ trong phong trào sáng tạo kỹ thuật; khuyến khích rộng rãi các hoạt động sáng kiến cải tiến kỹ thuật, phát triển công nghệ, nghiên cứu khoa học, tập trung vào các vấn đề KH&CN trọng điểm của Thành phố, tăng số lượng đơn đăng ký bảo hộ sáng chế của các chủ thể trên địa bàn thành phố; tập hợp và hỗ trợ các đề tài, giải pháp, sản phẩm sáng tạo kỹ thuật của Thành phố tham gia hưởng ứng các giải thưởng, hội thi, cuộc thi liên quan cấp quốc gia và quốc tế.
 
Các sáng chế dự giải được đánh giá theo ba điều kiện bảo hộ độc quyền của Luật Sở hữu trí tuệ (có khả năng áp dụng công nghiệp, có tính mới, có trình độ sáng tạo) và theo tiềm năng thương mại của sáng chế.
 
Các sáng chế đoạt Giải Nhất sẽ được tặng Bằng khen của Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Mọi sáng chế dự giải sẽ được Thành phố hỗ trợ gởi tham dự Cuộc thi Sáng chế do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì.
 
Đối tượng tham gia Giải thưởng Sáng chế Thành phố là các chủ sở hữu và tác giả các bằng độc quyền sáng chế.
 
Giải thưởng Sáng chế Thành phố lần I (năm 2008) đã trao 5 giải thưởng, lần II (năm 2009) trao 5 giải thưởng và lần III (2010-2011) trao 9 giải thưởng. Qua 3 lần triển khai, đã có 19 bằng độc quyền sáng chế và giải pháp hữu ích được trao giải.
 
Giải thưởng Sáng chế Thành phố lần IV (2015-2016) đã đưa ra mục tiêu cụ thể là nhằm nâng lượng đơn đăng ký sáng chế của thành phố Hồ Chí Minh lên 400 đơn/năm trong giai đoạn 2016-2020, đồng thời nâng lượng bằng độc quyền được cấp cho các chủ thể tại thành phố Hồ Chí Minh từ 50 bằng trong năm 2015 lên 100 bằng vào thời điểm năm 2020. Kết quả có 10 sáng chế được trao Giải thưởng sáng chế Thành phố lần thứ IV. 
 

Kết quả Giải thưởng sáng chế Thành phố lần thứ IV (2015-2016)

Nguồn: Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh

5.2.2 Giải thưởng Hội thi Sáng tạo kỹ thuật Thành phố

Năm 1990, Hội thi Sáng tạo kỹ thuật Thành phố hình thành từ hoạt động hưởng ứng Hội thi Sáng tạo kỹ thuật Toàn quốc lần thứ nhất. Hội thi Sáng tạo kỹ thuật Thành phố được tổ chức mỗi năm một lần do Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh (nay là Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh) chủ trì. 
 
Năm 2007, Hội thi Sáng tạo kỹ thuật Thành phố được triển khai theo Đề án tổ chức Phong trào sáng tạo khoa học kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2007-2012 do Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh phê duyệt tại Quyết định số 4077/QĐ-UBND, ngày 11/9/2007. Công tác chủ trì Hội thi Sáng tạo kỹ thuật Thành phố được chuyển giao từ Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh sang Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh. 
 
Năm 2010, theo chỉ đạo của Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, Hội thi Sáng tạo kỹ thuật Thành phố được chuyển sang chu kỳ hai năm một lần, luân phiên xen kẽ với Giải thưởng Sáng chế Thành phố.
 
Từ năm 2014, Hội thi Sáng tạo kỹ thuật Thành phố được tổ chức theo Quyết định số 5825/QĐ-UBND ngày 28/11/2014 của Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về ban hành Quy chế tổ chức các giải thưởng trong phong trào sáng tạo kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2014 - 2020.
 
Hội thi Sáng tạo kỹ thuật Thành phố nhằm khơi dậy phong trào thi đua lao động sáng tạo trong mọi tầng lớp; khuyến khích rộng rãi các hoạt động sáng kiến cải tiến kỹ thuật, phát triển công nghệ, nghiên cứu khoa học, tập trung vào các vấn đề khoa học và công nghệ trọng điểm của Thành phố, qua đó thúc đẩy việc áp dụng có hiệu quả các giải pháp kỹ thuật vào sản xuất và đời sống, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố; tập hợp và hỗ trợ các đề tài, giải pháp, sản phẩm sáng tạo kỹ thuật của Thành phố tham gia hưởng ứng các giải thưởng, hội thi, cuộc thi liên quan cấp quốc gia và quốc tế.
 
Các đề tài, giải pháp dự thi được đánh giá theo ba tiêu chí: có tính mới và tính sáng tạo so với trình độ kỹ thuật ở Việt Nam, có khả năng áp dụng rộng rãi trong điều kiện Việt Nam, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao hơn so với giải pháp tương tự đã biết.
 
Các đề tài đoạt Giải Nhất sẽ được tặng Bằng khen của Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Đề tài dự thi hợp lệ sẽ được Thành phố hỗ trợ gởi tham dự Hội thi Sáng tạo kỹ thuật toàn quốc hoặc Giải thưởng Khoa học và công nghệ Việt Nam (Giải thưởng VIFOTEC).
 
Đối tượng dự thi là cá nhân hoặc tổ chức: người Việt Nam ở trong nước và nước ngoài, người nước ngoài đang làm việc và sinh sống tại Việt Nam, không phân biệt lứa tuổi, dân tộc, nghề nghiệp có các đề tài nghiên cứu hoặc giải pháp công nghệ được tạo ra và áp dụng đều có quyền dự thi với tư cách cá nhân hoặc tập thể. Tập thể dự thi là các đơn vị, tổ chức của Việt Nam đã đầu tư nghiên cứu để tạo ra giải pháp kỹ thuật.
 
Hội thi Sáng tạo kỹ thuật Thành phố lần thứ 23 (2013-2014) đã trao giải thưởng cho 36 đề tài, giải pháp thuộc 6 nhóm chuyên ngành với 5 Giải Nhì, 14 Giải Ba và 17 Giải Khuyến khích. 

 

Kết quả Hội thi Sáng tạo kỹ thuật Thành phố lần thứ 23 (2013 - 2014)

Nguồn: Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh

5.2.3. Giải thưởng Tôn Đức Thắng
 

Giải thưởng Tôn Đức Thắng do Liên đoàn Lao động thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với Báo Sài Gòn Giải phóng sáng lập vào năm 2000. Đến năm 2004, Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh quyết định nâng cấp Giải thưởng Tôn Đức Thắng thành giải thưởng cấp thành phố, với Quy chế xét chọn Giải thưởng được ban hành kèm theo Quyết định số 148/QĐ-UB, ngày 07/06/2004. Lễ trao Giải thưởng được tổ chức vào dịp kỷ niệm ngày sinh của cố Chủ tịch Tôn Đức Thắng (ngày 20/8 hàng năm).
 
Giải thưởng Tôn Đức Thắng nhằm tôn vinh những kỹ sư (từ bậc 2 trở lên), công nhân (từ thợ bậc 2/5, 3/6, 4/7 trở lên) đang trực tiếp sản xuất hoặc trực tiếp điều hành sản xuất trong các doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất - kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế trên địa bàn thành phố, có nhiều cống hiến xuất sắc trong phong trào lao động sáng tạo và đào tạo, bồi dưỡng lớp thợ trẻ giỏi. 
 
Tiêu chuẩn xét chọn: tốt nghiệp phổ thông trung học trở lên; có từ 5 năm công tác trở lên; là Đảng viên hoặc đối tượng Đảng, hoặc Đoàn viên công đoàn xuất sắc; tích cực tham gia các hoạt động của doanh nghiệp, công đoàn; bản thân và gia đình gương mẫu chấp hành chủ trương chính sách của Đảng, luật pháp của Nhà nước. Có thành tích phong trào sáng kiến cải tiến kỹ thuật, bản thân là tác giả hoặc đồng tác giả các sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất tại doanh nghiệp có giá trị làm lợi, tiết kiệm trên 50 triệu đồng; có thành tích tiêu biểu trong việc bồi dưỡng, đào tạo, kèm cặp nhiều công nhân; bản thân đạt một trong các danh hiệu sau: chiến sĩ thi đua từ cấp cơ sở trở lên, đạt giải thưởng Hội thi Sáng tạo khoa học kỹ thuật Thành phố hoặc toàn quốc từ giải khuyến khích trở lên, Bằng và huy hiệu lao động sáng tạo của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Bàn tay vàng trong các hội thi thợ giỏi cấp trên cơ sở, cấp thành phố hoặc toàn quốc.
 
Cá nhân đạt Giải thưởng được Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tặng Bằng khen kèm theo tiền thưởng. Giải thưởng chỉ trao một lần cho một cá nhân.
 
Năm 2016, Giải thưởng Tôn Đức Thắng lần thứ 16 được trao tặng cho 8 cá nhân là những điển hình tiêu biểu về sự miệt mài trong lao động và học tập, nâng cao trình độ để tiếp cận, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật; cống hiến tâm huyết trong truyền thụ những kinh nghiệm quý báu cho thế hệ trẻ. 
 

Danh sách cá nhân đạt giải thưởng Tôn Đức Thắng lần thứ 16 năm 2016

Nguồn: http://sggp.org.vn

5.2.4. Giải thưởng Cuộc thi Sáng tạo Thanh thiếu nhi Thành phố
 

Kể từ năm 2004, Cuộc thi Sáng tạo Thanh thiếu nhi Thành phố được Thành Đoàn thành phố Hồ Chí Minh chủ trì tổ chức hàng năm nhằm hưởng ứng Cuộc thi Sáng tạo Thanh thiếu niên nhi đồng Toàn quốc. 
 
Đến năm 2007, Cuộc thi Sáng tạo Thanh thiếu nhi Thành phố được triển khai theo Đề án tổ chức Phong trào sáng tạo Khoa học kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2007-2012 do Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh phê duyệt tại Quyết định số 4077/QĐ-UBND, ngày 11/9/2007. 
 
Từ năm 2014, Cuộc thi Sáng tạo Thanh thiếu nhi Thành phố được tổ chức căn cứ theo Quy chế Tổ chức các giải thưởng trong phong trào sáng tạo kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2014 – 2020 tại Quyết định số 5825/QĐ-UBND ngày 28/11/2014 của Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.
 
Cuộc thi Sáng tạo Thanh thiếu nhi Thành phố nhằm khuyến khích rộng rãi các hoạt động sáng kiến cải tiến kỹ thuật, phát triển công nghệ, nghiên cứu khoa học; khơi dậy và phát huy khả năng tư duy, sáng tạo của thanh thiếu nhi thành phố, đồng thời giúp các em trau dồi kiến thức và rèn luyện kỹ năng sáng tạo; tập hợp và hỗ trợ các đề tài, giải pháp, sản phẩm sáng tạo kỹ thuật của Thành phố tham gia hưởng ứng các giải thưởng, hội thi, cuộc thi liên quan cấp quốc gia và quốc tế.
 
Các mô hình và sản phẩm kỹ thuật dự thi được đánh giá theo ba tiêu chí: có tính mới, tính sáng tạo và có khả năng áp dụng.
 
Các mô hình, sản phẩm đoạt Giải Nhất sẽ được tặng Bằng khen của Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Mọi mô hình, sản phẩm dự thi hợp lệ sẽ được Thành phố hỗ trợ gởi tham dự Cuộc thi Sáng tạo Thanh thiếu niên nhi đồng Toàn quốc.
 
Đối tượng dự thi là tất cả thanh thiếu nhi trên địa bàn thành phố, có thể dự thi với tư cách cá nhân hoặc theo nhóm.
 
Căn cứ vào thể lệ Cuộc thi Sáng tạo Thanh thiếu niên nhi đồng Toàn quốc và chương trình hành động hàng năm, Thành Đoàn thành phố Hồ Chí Minh ban hành thể lệ Cuộc thi Sáng tạo Thanh thiếu nhi Thành phố, tổ chức vận động tham dự và tiến hành tổng kết chung với Giải thưởng Sáng chế Thành phố hoặc Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật Thành phố của năm tương ứng.
 
Năm 2016, Cuộc thi Sáng tạo Thanh thiếu nhi Thành phố dành cho tất cả thanh thiếu nhi trên địa bàn thành phố, độ tuổi từ 6 – 18. Các thí sinh có thể dự thi với tư cách cá nhân hoặc theo nhóm (tối đa 5 người/nhóm) được chia làm 3 bảng: Bảng A (khối học sinh tiểu học), Bảng B (khối học sinh trung học cơ sở), Bảng C (khối học sinh trung học phổ thông). Sản phẩm dự thi là các mô hình, giải pháp kỹ thuật được khuyến khích hướng vào các lĩnh vực: dụng cụ học tập, dụng cụ lao động sản xuất, dụng cụ sinh hoạt hằng ngày, đồ chơi trẻ em và đồ dùng giải trí, bảo vệ môi trường và các vấn đề biến đổi khí hậu, cải thiện tình hình giao thông, cải thiện tình hình ngập nước và bảo vệ nguồn nước... Kết quả có 16 giải đã được trao, trong đó có 1 Giải Nhất, 4 Giải Nhì, 2 Giải Ba và 9 Giải Khuyến khích.
 

Kết quả Cuộc thi Sáng tạo Thanh thiếu nhi Thành phố lần thứ 11, năm 2016

Nguồn: Thành Đoàn thành phố Hồ Chí Minh

5.2.5. Giải thưởng Công nghệ thông tin - Truyền thông thành phố Hồ Chí Minh

Năm 2008, Giải thưởng Công nghệ thông tin - Truyền thông thành phố Hồ Chí Minh lần đầu tiên được tổ chức theo Quyết định số 128/2007/QĐ-UBND, ngày 29/10/2007 của Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về ban hành Quy chế xét tặng Giải thưởng Công nghệ thông tin - Truyền thông thành phố Hồ Chí Minh. Giải thưởng được tổ chức hàng năm, Sở Bưu chính, Viễn thông (nay là Sở Thông tin và Truyền thông) được giao làm cơ quan thường trực. 
 
Từ năm 2013, Giải thưởng được tổ chức theo Quyết định số 40/2013/QĐ-UBND ngày 26/09/2013 của Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về ban hành Quy chế xét tặng Giải thưởng Công nghệ thông tin - Truyền thông thành phố Hồ Chí Minh. 
 
Giải thưởng được trao tặng cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân có sản phẩm, dịch vụ và thành tích xuất sắc đóng góp cho sự phát triển công nghệ thông tin - truyền thông của Thành phố, theo các lĩnh vực sau:
 
– Doanh nghiệp có sản phẩm và giải pháp phần mềm tiêu biểu;
 
– Doanh nghiệp có sản phẩm phần cứng tiêu biểu; 
 
– Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ giá trị gia tăng tiêu biểu; 
 
– Đơn vị ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông tiêu biểu; 
 
– Đơn vị, cá nhân có thành tích xuất sắc đóng góp vào sự phát triển công nghệ thông tin - truyền thông thành phố; 
 
– Sinh viên ngành công nghệ thông tin - truyền thông có thành tích nghiên cứu và học tập xuất sắc. 
 
Đối tượng được tham gia Giải thưởng là các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, có đăng ký hay có giấy phép hoạt động trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh; các cá nhân là người Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc người có quốc tịch nước ngoài hiện đang sinh sống làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh. 
 
Đơn vị và cá nhân có thể đăng ký tham gia để được xét trao Giải thưởng cho nhiều nhóm danh hiệu khác nhau, tuy nhiên mỗi nhóm danh hiệu chỉ được đăng ký xét và trao giải cho một sản phẩm (trừ nhóm danh hiệu: đơn vị ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông tiêu biểu; và đơn vị, cá nhân có thành tích xuất sắc đóng góp vào sự phát triển công nghệ thông tin - truyền thông của Thành phố). 
 
Các đơn vị và cá nhân đã được trao Giải thưởng vẫn có quyền được tham gia xét và trao Giải thưởng ở các năm tiếp theo nếu có thành tích đặc biệt xuất sắc, đáp ứng được điều kiện và tiêu chuẩn của Giải thưởng. 
 
Năm 2015, Giải thưởng Công nghệ thông tin - Truyền thông thành phố Hồ Chí Minh lần VII có chủ đề “Xây dựng thành phố thông minh, lấy chính phủ điện tử làm trung tâm”. Mục tiêu của Giải thưởng nhằm hướng tới việc thúc đẩy thực hiện nghị quyết 36/NQ-TW của Bộ Chính trị về việc đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế, phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, nâng cao chất lượng dịch vụ công cung cấp cho người dân thành phố như y tế, giao thông, giáo dục…để phát triển kinh tế - xã hội thành phố bền vững, hiện đại, văn minh và phục vụ người dân được tốt hơn.

Giải thưởng lần VII đã được trao cho 8 sản phẩm, dịch vụ của 8 đơn vị; 3 đơn vị ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông; 2 tập thể, 2 cá nhân có thành tích đóng góp cho sự phát triển của ngành công nghệ thông tin - truyền thông thành phố và 5 sinh viên. 


 

Nguồn: http://www.ict-hcm.gov.vn

5.2.6. Giải thưởng Sinh viên nghiên cứu khoa học - Euréka

Giải thưởng Sinh viên nghiên cứu khoa học - Euréka là giải thưởng dành cho sinh viên, tiền thân là Chương trình Euréka.
 
Chương trình Euréka tài trợ cho các nhà nghiên cứu trẻ được khởi xướng năm 1990, nằm trong Chương trình “Vì ngày mai phát triển” của Báo Tuổi Trẻ. Sau đó, Chương trình được chuyển giao về Trung tâm Sáng tạo Khoa học Kỹ thuật và Công nghệ Trẻ (nay là Trung tâm Phát triển Khoa học và Công nghệ Trẻ) trực thuộc Thành Đoàn thành phố Hồ Chí Minh, và thực hiện đến năm 1998. Kế thừa chương trình này, Thành Đoàn thành phố Hồ Chí Minh và Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh đã ký kết hợp tác hình thành Giải thưởng Sinh viên nghiên cứu khoa học – Euréka, bắt đầu từ năm 1999 đến nay, định kỳ tổ chức hàng năm.
 
Giải thưởng Sinh viên nghiên cứu khoa học - Euréka nhằm tạo sân chơi học tập, sáng tạo và nghiên cứu khoa học, qua đó phát hiện, bồi dưỡng những ý tưởng sáng tạo của sinh viên; thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học trong sinh viên các trường đại học, cao đẳng và học viện trên địa bàn thành phố; góp phần ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ vào sản xuất và cuộc sống.
 
Các đề tài được xét trao Giải thưởng theo các tiêu chí: có tính mới, tính sáng tạo, có khả năng ứng dụng cao và đảm bảo tính khoa học.
 
Đối tượng tham gia Giải thưởng Sinh viên nghiên cứu khoa học - Euréka là sinh viên có đề tài, công trình nghiên cứu khoa học, đang học tập tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và học viện trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Năm 2015, đối tượng tham gia được mở rộng ra các tỉnh thành khu vực phía Nam (từ tỉnh Bình Thuận trở vào). Năm 2016, đối tượng tham gia được mở rộng ra toàn quốc. Mỗi cá nhân hoặc tập thể (mỗi tập thể không quá 5 sinh viên) có thể đăng ký tham gia một hoặc nhiều công trình.

Năm 2016, kết quả Giải thưởng Sinh viên nghiên cứu khoa học - Euréka lần thứ XVIII đã trao tổng cộng 85 giải, gồm 9 Giải Nhất, 12 Giải Nhì, 13 Giải Ba, 51 Giải Khuyến khích dành cho các tác giả/nhóm tác giả có đề tài xuất sắc nhất.

 

Kết quả Giải thưởng Sinh viên nghiên cứu khoa học - Euréka lần thứ XVIII, năm 2016

Nguồn: Thành Đoàn thành phố Hồ Chí Minh